Trúc Lâm tiểu hòa thượng tam sinh ký - Phần 2

Đăng lúc: Thứ tư - 05/03/2014 14:28 - Người đăng bài viết: phichan
Phi hốt nhiên giác ngộ, từ bấy giờ chuyên tâm thành kính mà dựng Phật tháp. Quả đến mùa xuân năm sau thì tháp xây xong. Phi trở về kinh sư, dọn dẹp phủ đệ, giải tán cả viện Lê Hương, dời hết ca nương cầm khách đi nơi khác.
Trúc lâm thiền viện

Trúc lâm thiền viện

(Phần I)

Một bận nhàn hạ, dạo chơi ngắm cảnh Tây Hồ, Phi vô tình sải bước qua cửa chùa Linh Sơn, hốt nhiên rùng mình như nhận ra điều gì, dấn bước đi vào, thấy mấy tên đồ gàn đang nghịch mực, Phi cũng len vào nghịch chơi, bỗng nhiên chữ nghĩa thơ phú ở đâu như dồn vào trong đầu, không cần học mà thông thạo chữ nghĩa. Từ ấy lại tự động cạo hết tóc trên đầu không khác gì một vị thầy tăng.

Tính ưa phong thú, lại sẵn chữ trong bụng, nên Phi cũng thường hay đề vịnh, mà thường là trêu chọc bỡn cợt không kiêng ai. Khi xây lại cổng phủ, Phi tự đề đôi câu đối rằng:

 

Kim cổ đồng chinh, triêu mộ càn khôn khai hạp;

Ngọc tiêu dao sắt, thần hôn vân vũ hòa ca.

(Trống vàng, chiêng đồng, sớm tối càn khôn đóng mở;

Đàn dao, sáo ngọc, chiều hôm mây mưa hòa ca)

 

Kim cổ đồng chinh ý nói mặt trăng mặt trời, mà cũng là nói cảnh viện Lê Hương đàn sáo trống chiêng vui vẻ cả ngày, song cái ý nghịch ngợm đọc qua đã thấy rõ vậy.

Hay khi xuân về, tân khách đến chúc tụng, bạn chữ nghĩa thơ văn cũng có, bạn thổ mộc tượng ngõa cũng nhiều, Phi lại đề đôi câu đối rằng:

 

Thư sử lâu đài trường kiến trúc;

 Văn chương để trụ cửu bồi đôn.

(Thư sử lâu đài xây dựng mãi;

Văn chương nền móng đắp bồi lâu)

Khiến ai đến xem được cũng đều thấy lý thú.

 

Lại có bận, có vị nhạc sư đến thăm viện Lê Hương, biết tiếng thư pháp của Phi liền xin được tặng cho hai chữ. Phi liền viết luôn hai chữ “Lạc Đạo” (Vui với đạo) Chữ Hán Lạc với Nhạc đồng một chữ, đạo (lý) với đạo (chích) đồng âm. Vị nhạc sư đi rồi, Phi mới quay sang tả hữu nói: Ấy “Lạc Đạo”, cũng như là “NHạc Đạo” vậy! Khiến ai nấy đều bật cười. Ấy phàm những chuyện phong thú của Phi là như thế …

 

Khoảng niên hiệu Phú Trọng, chính sự nhũng nhiễu, lòng dân rối loạn, không biết quy về đâu, thành thử trò tà ma đồng cốt nổi lên, con người chỉ biết gửi niềm tin vào đấng tối cao, thánh thần ma quỷ. Tự viện đình đền miếu mạo mọc lên khắp nơi. Triều đình cũng dựng lên không biết bao nhiêu là tự viện quy mô cực kỳ to lớn. Các trấn Sơn Nam, Yên Quảng, Tam Đới đều có các đại thiền viện. Phi vì có tài thổ mộc, nên được triều đình trưng vời ra đốc sát việc dựng đại bảo tháp ở Thiền viện Trúc Lâm ở Tam Đới.

 

Thiền viện dựng trên đỉnh non, rộng hàng ngàn mẫu, kiêm mấy quả núi, trên đó tụ tập hàng trăm tăng ni đến tu hành. Phi đốc công dựng tháp cũng phải ở trên tự viện ăn chay, nằm mộng, sớm trống chiều chuông, nghe kinh thính pháp, âu cũng là túc trái tiền duyên từ kiếp trước vậy. Ban đầu Phi còn giữ ý cẩn thận, sau ở lâu dần quen tính hay trêu bỡn mọi người, giờ ở trên núi cao, chỉ có sư sãi, nhưng cũng không từ.

 

Có bận xuống núi về kinh, dong chơi qua tận bờ bắc Đức Giang, đến lúc lên thiền viện, trò chuyện với các vị tăng trẻ, có người hỏi: “Bác về kinh có chuyện gì hay, xin kể cho nghe?” Phi ngẫm nghĩ rồi bảo: “Nhân đi đường làm được bài thơ đọc cho các ngài nghe. Thơ rằng:

 

Yên viên cô tịch cô liêu các;

Thiếu nữ đơn sầu mộng cố nhân.

Môn ngoại hốt văn như hữu khách;

Khai cầu chỉ kiến vũ liên xuân.

 

Các sư tăng vốn không biết bên bờ bắc Đức Giang có chỗ gọi là Yên Viên, vốn lắm kỹ nữ, nên đều trầm ngâm khen ngợi. Riêng Phi lấy làm thú, cứ cười ngặt nghẽo mãi.

 

Trên thiền môn ăn chay lâu ngày, Phi không chịu được. Nên thỉnh thoảng lại trốn xuống dưới núi đi chơi bời ăn uống. Xứ Tam Đới nổi tiếng lắm trâu, nên Phi thường cứ xuống núi là tìm đến nơi có quán thịt trâu mà ăn. Có bận ăn thịt uống rượu ngà say, đến lúc trăng tà, Phi mới ngất ngưởng cầm theo bầu rượu trèo lên núi mà về. Dưới ánh trăng thấp thoáng, Phi chợt thấy như có vị sư đi lướt qua nói: “Chốn cửa phật từ bi, ông chớ có làm ô uế mới được!” Phi ngẩng lên nhìn thì lại chẳng thấy ai cả, cho là say quá tai ù, liền về nhà đi ngủ.

 

Được ít hôm, thèm thịt, Phi lại nhân đêm hôm, mò xuống núi. Lần này mới đến lưng núi, bỗng thấy một quán hàng hình như mới mở ra, dựng dưới gốc cây thị lớn. Trong quán, đèn đuốc ấm áp, rượu thịt ngon lành, Phi liền vào ăn uống say sưa, đến khuya mới về. Về đến phòng rồi, Phi mới hay là quên mất chìa khóa, ngẫm nghĩ lại, hình như để trên đầu bàn ăn. Đành bấm bụng quay lại quán để tìm. Leo hết nửa dốc, mới trông thấy quán hàng thấp thoáng bên gốc cây thị cổ, Phi đã hơi mừng, cố đi nốt quãng đường. Cách một đoạn, chợt nghe thấy có tiếng gà rừng gáy sớm. Phi ngoái cổ sang bên tiếng gáy nhìn, đến lúc quay lại, thì đã không thấy quán hàng đâu nữa. Bên gốc cây thị cổ chỉ còn mấy tảng đá hộc. Phi đi đến nơi, thì chìa khóa của mình đúng là trên một tảng đá. Chợt Phi thấy bụng đau quằn quại, nôn nao khắp người, nghĩ là say rồi, vội chạy ra bên mé rừng móc họng nôn mựa. Chỉ thấy từ trong họng nôn ra, không phải thịt trâu mà toàn sâu bọ, giun dế! Phi hãi quá biết là bị ma trêu, vội chạy thẳng lên núi, trốn vào phòng mình.

 

Từ ấy Phi không dám xuống núi nữa, chỉ quanh quẩn ở trên Thiền viện. Một hôm, đi vòng ra phía quả đồi sau núi chơi, Phi chợt thấy mấy mảnh vườn rau, đồi chè do sư ni trên Thiền viện tự trồng lấy cái ăn. Thơ thẩn dạo quanh, chợt trông thấy xa xa một ni cô đang hái chè, Phi lượn lại gần bắt chuyện, thấy ni cô mặt hoa da phấn, trong bộ quần áo nâu xồng giản dị càng lộ vẻ thanh tân kiều diễm. Bàn tay nhỏ mềm, dài như măng ngọc, khiến búp chè hái trong tay cũng như ánh sáng hẳn lên. Hỏi ra mới biết vốn là con nhà khuê các, chỉ vì hận tình đời đen bạc duyên phận hẩm hiu, nên mới đến Thiền viện chưa lâu. Phi thầm nghĩ, người trông thế ấy, tình bởi thế kia, chắc gì đã dứt được duyên phàm mà yên thân cửa Phật? Nghĩ xong chợt nổi ý muốn được gần gũi, nhưng chưa kịp nói thêm thì ni cô đã từ biệt đi khuất.



Phi về ngẫm nghĩ, tính kế lại được gặp ni cô. Dò hỏi mới biết thường sáng sớm ni cô ấy đã phải ra sau đồi hái lá chè để dùng cả ngày trong viện. Vì vậy bèn định sẵn một kế trong đầu.

 
Sáng hôm sau nữa, Phi thức dậy từ gà gáy, ra sau suối tắm, rồi ngồi gần đồi chè rình xem. Ít lâu quả thấy ni cô đeo gùi đi lên, Phi bèn mặc quần áo ướt, chạy lên trước lối vào vườn chè nằm vật xuống. Ni cô đi tới, thấy có người bất tỉnh, quần áo ướt cả, cho là đã nằm đó từ đêm, lại nhận ra là người hôm trước bèn xốc dậy đỡ vào lều canh phía trên. Đoạn đặt Phi nằm xuống mà ủ cỏ khô, rồi lại cởi quần áo của Phi ra rồi lấy một lần áo của mình thay cho. Đang mặc cho Phi thì Phi chợt bừng dậy, giả vờ bảo: “Thôi chết, sao cô lại cởi quần áo của tôi ra như thế? Kẻ tu hành mà lại một mình cởi quần áo dị phái, không sợ ư?” Chỉ thấy ni cô mỉm cười nói: “Phật dạy, cứu một người phúc đẳng hà sa, há tôi lại giữ đạo hạnh không đâu, mà để ngài nằm chết ở đấy ư? Vả chăng, chấp sắc thì có sắc, chấp tướng thì có tướng, không chấp vào sắc tướng, thì sắc tướng còn có thấy nữa không? Xưa quỷ vương đưa người con gái ra trước mặt đức Phật, mà Phật chỉ thấy như cái túi da đựng máu huyết. Nhà nho các ngài lại cũng hay nói chuyện ông Liễu Hạ Huệ ôm nữ nhân cả đêm, mà không sợ bẩn thanh danh. Ngài không nghe chuyện ấy ư?”
 
Phi nghĩ thầm, dưới vỏ văn tự bóng bẩy ấy, lòng vả hẳn như lòng sung thôi. Bèn cầm lấy tay ni cô mà ôm lấy, nhưng ni cô chỉ bảo nằm im sưởi ấm, khỏe rồi hãy về phòng.
 
Nghĩ trêu gợi trần tâm ni cô như vậy không được, mấy hôm sau nữa, Phi lại cuộn một bức tranh xuân cung, rồi cũng lựa khi ni cô ra đồi chè, tiến đến trò chuyện. Xong từ biệt rồi, lại đưa cuộn tranh nói: “Có bức tranh đẹp, tặng ni cô xem chơi.” Ni cô lại giở ngay ra xem. Phi đứng phía trước, đợi xem sắc diện ý tứ thế nào, chỉ thấy ni cô nói: “Tranh này đẹp lắm, truyện Tô Tử Chiêm có bảy người thiếp, mà Phật Ấn đến chơi bước qua bảy lò lửa, tưởng chỉ có trong sách, hóa lại có người vẽ nên tranh.” Rồi vẫy Phi lại xem, Phi gấp gởi đến gần thì thấy tranh ấy lại là tranh vẽ Phật Ấn đang bước trên mấy lò lửa! Phi lấy làm ngạc nhiên, giận kẻ nào đã đánh tráo tranh của mình.
 
Một bận, có vị Lạt-ma bên từ phía tây đến đàm đạo giao hữu ở ngôi chùa lân cận, Thiền sư viện chủ dẫn chư tăng ni đi bái phỏng, số tăng ni ở lại cũng ít. Biết ni cô mới đến, không được đi lần này, Phi mừng lắm. Đến tối, bèn lẻn đến dưới cửa sổ gõ cửa, nói là đêm trăng sáng muốn mời ni cô ra ngoài đàm đạo. Ni cô nói: “Nếu ngài đoán được tục danh của ta thì ta sẽ ra.” Đoạn đưa giấy và bút ra cửa. Phi liền viết ba chữ: “Thạch Bất Tùy” (Họ Thạch, chẳng theo ư?) Ni cô cười bảo: “Ngài cũng tài thật, ta đúng họ Thạch. Vậy hãy lên chòi canh trên đồi đợi ta.”
 
Phi lên đồi trước, lát sau thấy ni cô đến. Ánh trăng trung tuần sáng tựa ban ngày. Nhìn vẻ đẹp ni cô dưới ánh trăng mờ càng thêm hư ảo, như hư như thực, tựa Hằng Nga mới giáng trần, như Lạc Thần trên sóng nước. Phi chẳng chần chừ gì, lôi luôn vào lòng mà ôm ấp, ni cô chẳng nói chẳng rằng chỉ để mặc cho Phi thỏa chí. Vuy vầy suốt đêm, đến tận lúc Phi thiếp đi lúc nào không hay.
 
Sáng hôm sau, có bọn trẻ lên sau đồi chùa lấy củi, chợt trông thấy một người không quần không áo, đang nằm ôm lấy tảng đá mà ngủ. Nhìn lại thì hóa là Phi. Bèn lay mãi, Phi mới dậy. Chúng hỏi: Sao một mình ông lại ôm phiến đá nằm đây thế này? Phi ngơ ngác không biết nói sao, vơ quần áo mặc lại về phòng, trong lòng nghi hoặc, không biết chuyện hôm qua là thế nào? Lúc sờ đến túi áo, chợt thấy có một tờ giấy viết rằng: “Ta đã mấy lần khuyến cáo, mà ông lòng dục ý tà vẫn không dứt bỏ được? Có còn nhớ Điểm Bích xưa chăng? Ta nay đã sửa tâm mấy kiếp theo về chính pháp rồi, sao ông vẫn ngàn năm không dứt tính cũ vậy? Chỉ vì có chút duyên hội ngộ xưa kia, vả còn chút nợ nần, nên mới giúp nốt lần cuối này thôi.” Lại có một bài thơ dài …hai câu cuối là:
“…Phải qua mấy vạn lỗi lầm;
Thời ta mới chạm uyên thâm cõi thiền.”
 
Phi hốt nhiên giác ngộ, từ bấy giờ chuyên tâm thành kính mà dựng Phật tháp. Quả đến mùa xuân năm sau thì tháp xây xong. Phi trở về kinh sư, dọn dẹp phủ đệ, giải tán cả viện Lê Hương, dời hết ca nương cầm khách đi nơi khác.


Tác giả bài viết: Thày Lý Châu Hải Đường
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

+ Xem phản hồi    - Gửi phản hồi   Print Friendly and PDF

Ý kiến bạn đọc

 
Powered by Nukeviet