Trúc Lâm tiểu hòa thượng tam sinh ký - Phần 1

Đăng lúc: Thứ ba - 04/03/2014 03:33 - Người đăng bài viết: phichan
Chớp mắt, rận lại thấy mình là Xích Văn đã đang quỳ mọp trước công đường ở Phong Đô. Xích Văn oán hận bẩm trình lên vị vương giả và các phán quan, rằng tuy đúng như lời phán quan nói, nhưng kiếp rận thì thực không thể thấy gì.
Vằng vặc trăng mai ánh nước

Vằng vặc trăng mai ánh nước

Khoảng niên hiệu Hưng Long đời Trần, có nhà họ Giả ở phủ Ninh Vân, cả hai vợ chồng đều đã lớn tuổi mà chưa có con. Hai ông bà phát tâm tạc tượng Quan Âm tống tử cung tiến lên chùa trên Thúy Sơn, lại nhất tâm ăn chay cầu xin ban cho một mụn con. Một hôm bà nằm mơ thấy đức Quan âm Đại sĩ đến trao cho một đứa con trai, lại dặn về sau hãy cho nên chùa hầu hạ tam bảo thì hậu vận mới tốt. Quả nhiên Giả phu nhân sau đó có mang, kịp đủ chín tháng mười ngày sinh được một trai, đặt tên là Xích Văn. Xích Văn lớn lên dung mạo uy nghi phúc hậu, tính tình hào sảng, nhưng rất nghịch ngợm, nhiều khi khiến ông bà Giả phát phiền. Nhớ lại câu Quan âm nói trong giấc mộng năm xưa, tuy chỉ có một trai, nhưng lo cho con, bà cũng bảo ông hay là cho Xích Văn lên chùa hầu hạ tam bảo một thời gian.

Bấy giờ ở xứ Đông nổi lên ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm, nối nhau trụ trì trên núi Yên Tử, danh vọng vang khắp cửu châu, ra tận hải ngoại. Đến lúc ông bà Giả tính cho Xích Văn lên chùa thì đã là đời vị tổ thứ ba là Huyền Quang.

Nghe tiếng tam tổ đã lâu, thấy cha mẹ nói cho lên chùa học tập, Xích Văn bèn xin được lên Yên Tử tầm sư. Vào được sơn môn rồi, Xích Văn được giao cho việc hàng ngày quét dọn tự viện và kê cấp bậc đá lên xuống từ chùa trên đỉnh mây xuống mãi chân núi.

Một bận tam tổ đi vân du về, thấy lối lên xuống bụi bám lá rụng, gọi Xích Văn bảo sao không quét dọn, Xích Văn thưa một câu: “Thạch kính hữu trần phong tự tảo” (Lối đá có bụi, gió tự quét). Huyền Quang  thấy câu ấy có ý thú, gật gù khen, rồi bảo: “Ngươi biện bạch thật hay. Vậy ta giao cho ngươi viết nốt câu thơ đối lại cho thành một cặp. Nếu đối được thì ta tha tội trễ nải cho, bằng không thì phải đòn.”

Xích Văn lĩnh ý, hẹn tối sẽ trình câu đối lên.

Quá giờ Tuất, sư vẫn chưa thấy Xích Văn đến, cho người ra ngoài gọi vào, thì thấy Xích Văn đang nằm ngủ, mà cổng chùa cũng không đóng. Người ấy quay về bẩm lại với sư, sư thân hành xuống xem thực hư ra sao, thấy đúng như vậy, liền gọi Xích Văn dậy hỏi. Văn đáp: “Bạch thầy! Đó là câu đối của con làm như lời thày bảo đó ạ!” Sư hỏi: “Đối thế nào?” Văn đáp: “Thiền môn vô tỏa nguyệt thường lâm.” (Cửa thiền không đóng, trăng thường vào)

Sư giật mình khen ngợi, nghĩ thầm: Xưa kia, Lục tổ cũng là kẻ nấu bếp không biết chữ. Nay ta gặp đứa quét dọn này, thực cũng gần như vậy. Nhưng xem ra trong văn khí chốn thiền quan, mà không dứt được phong nguyệt, khó mà tu thành. Vậy hãy cho lên hầu cận nơi ta, để ta dạy bảo thêm.

Từ ấy Xích Văn được thầy Huyền Quang cho lên ở gần bên mà dạy bảo cho chữ nghĩa phật pháp. Vốn là người thong minh, nên Văn học hành tấn tới, chữ viết rất đẹp, lại giỏi thư pháp, chữ ai cũng bắt chước được y như chính người đó viết ra.

Bấy giờ, có kẻ xiểm nịnh, đưa lời gièm pha lên đức Anh Tông, nói xấu tam tổ. Anh Tông liền bảo cung nhân là Điểm Bích lên Yên Tử thử lòng Tam Tổ. Tuy nhiên, Điểm Bích lên chùa đã gần nửa năm vẫn không thể thử được lòng sư, lo buồn lắm. Một bận, Xích Văn nhân rảnh rỗi đi vòng quanh dạo chơi, chợt thấy người con gái vô cùng xinh đẹp đang ngồi khóc bên bụi trúc cạnh sườn non, Văn chợt động lòng, tiến lại hỏi han, nàng kể lại sự tình, đoạn ôm chầm lấy Văn xin được giúp cho, nếu không e khó tránh khỏi tội chết. Xích Văn lần đầu tiếp xúc với nữ nhân, chợt tâm thần rạo rực, bao nhiêu lời kinh sách bay đi đâu hết, cũng ôm lấy Điểm Bích mà nói: “Chuyện ấy không khó gì, để ta giúp cho. Nàng định thử sư thế nào cứ chiều ta thế ấy, tất được như ý …”

Điểm Bích không còn bấu víu vào đâu đành phó thác vào một tay Văn. Nhưng một mực không cho Văn động đến, bảo cứ giúp xong rồi tất đền ơn. Văn bèn ngẫm nghĩ, rồi theo tình ý của mình mà làm một bài thơ nôm, lại bắt chước chữ của sư mà viết rằng:

 

Vằng vặc trăng mai ánh nước;

Hiu hiu gió trúc ngâm sênh.

Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ;

Mâu Thích Ca nào thuở hữu tình.

 

Điểm Bích được thơ, được chữ, bèn mang ngay về dâng lên Anh Tông. Lập tức triều đình cho sứ giả đến mời Huyền Quang về kinh. Xích Văn thấy thầy bị bắt đi, ân hận thời đã muộn, chạy theo ra mãi xa, rồi sau không làm sao được đâm đầu xuống vách núi tự vẫn …

Bỗng Văn thấy ngã lộn dưới gốc tùng già, rồi bỗng đâu xuất hiện liền hai tên quỷ đầu trâu mặt ngựa, cùng lôi đi. Đến một tòa thành, thấy biển đề hai chữ “Phong Đô” mới biết là mình đã xuống âm ti rồi. Quỷ lại dẫn Văn vào một tòa điện, nhìn lên thấy một vị vương mặt đen dữ tợn, hai bên có các phán quan đứng hầu.

Vương đập bàn hặc tội, cho lôi đi trừng trị. Sau mấy vòng tra khảo, quỷ sứ lôi Văn rã rượi xác xơ về trước điện, một vị phán quan đứng bên liền tâu: “Tên Giả Xích Văn này vì lòng tà dâm đã phạm giới luật, lại làm hại đến thầy mà không biết. Nhưng xét ra cũng chưa được Điểm Bích kia cho biết nỗi xuân tình. Xin đại vương hãy cho y lên làm kiếp rận để thỏa lòng nhìn ngắm.”

Vương gật đầu. Bọn quỷ sứ lôi ngay Văn ấn vào một cái túi đen kịt. Chớp mắt lại thấy sáng lòa, nhìn quanh thấy toàn những rận mà con nào con nấy to như mình. Nhìn rộng hơn nữa, thấy toàn những cây gì nhẵn trơn đen bóng, lớn bằng cổ chân. Mới biết mình đã thành kiếp rận mà đang ở trên đầu một vị lão nhân nào rồi.

Hóa ra đó là một viên quan án sát. Lão quan tuổi đã sáu ba nhưng còn tráng kiện. Xích Văn giờ đây là rận, chợt giận viên phán quan ăn nói hai lời, bảo cho mình được ngắm nhìn mỹ nữ, mà rốt cuộc lại tống lên đầu một lão già thế này thì có ức chết được không? Văn cũng tỉnh táo, sợ rằng cắn lão già nhiều thì tất phải chết sớm, nên thường tối đến mới cắn, còn thường biết nằm im, hoặc có đi lại cũng nhẹ nhàng. Chính vì vậy nên có bận chu du lên tận chòm râu của lão mà lão không biết.

Một hôm đang núp trong chòm râu quan ngài thì chợt có mấy kẻ đồng liêu kéo đến chuyện trò hệ toàn những chuyện nào tên lái buôn Dương Mãnh ở ngoài bờ bể, lại đến chuyện quan thị lang Phạm Bảo Ngự ở trong triều đường. Rận nghe không hứng thú gì. Bỗng lại nghe mấy quan rủ nhau ra chơi phố Bình Khang, không biết có gì hay mà mấy quan ngài hào hứng lắm, thành thử rận cũng tò mò nằm im nhìn xem.

Đến nơi, mới biết đó là chốn thanh lâu kỹ viện, từ xa đã nghe mùi phấn sáp thơm tho, tiếng nói cười rổn rảng. Rận thầm lấy làm mừng, bỗng một mỹ nhân chạy đến bá vai án sát đại nhân kéo vào phòng kín. Rận càng luống cuống cuối cùng rơi tuột khỏi chòm râu quan lớn, rớt thẳng xuống một quả đồi tròn trịa nhẵn trơn như bôi sáp mà mềm hơn nhung.

Rận đành lần mò xuống dưới. Hóa ra vị phán quan đã không lừa mình. Đây chẳng phải cơ hội cho mình thooar sức mà ngắm mỹ nhân ư? Trong bóng tối nhờ nhờ, nó len lỏi giữa bờ khe hẹp của hai quả đồi, đi mải miết. Đi mãi, tới một bình nguyên rộng. Nơi đây đã khá yên tĩnh, nhưng cả một khoảng mênh mông trống trải, không bụi cây ngọn cỏ. Chỉ độc một bờ giếng cạn nằm chơ vơ.

 

Rận tiếp tục lê bước, nó không dám mạo hiểm nơi miền đất lạ. Cuối khoảng mênh mông, ngay khi vừa vượt qua một sườn dốc nhỏ, một ốc đảo um tùm đột ngột hiện ra. Dọc hai bên khe lạch nhỏ xâp xấp một thứ nước ánh lên trong ánh sáng mờ ảo, um tùm một loài cỏ lạ, được xén tỉa kỹ càng. Một nơi trú ẩn tuyệt vời như nó từng có. Quá mệt, Rận chỉ kịp vạt đám cỏ êm mượt như nhung ra lấy chỗ nằm rồi thiếp đi trong nồng nàn hương cỏ…

 

Bỗng ánh sáng chói choang lên làm nó thức giấc. Vươn vai, Rận định bụng mò ra bờ lạch vục nước đánh răng rồi tắm nhẹ một chút. Nhưng nó đứng chết trân. Nó dụi mắt, lần 1, lần 2, rồi lần 3 nữa … Nó còn cấu vào đùi mình xem nó tỉnh hay mê. Điều kỳ lạ bậc nhất từ khi cha sinh mẹ đẻ tới giờ nó chưa bao giờ từng gặp, đang hiển hiện rõ mồn một, như không thể rõ ràng hơn: nó lại thấy mình vẫn ở nơi xưa chốn cũ, nơi đám râu ria rậm rạp của lão đại nhân đáng kính! Hận quá, nó nhảy luôn xuống lạch nước tự vẫn.

 

Chớp mắt, rận lại thấy mình là Xích Văn đã đang quỳ mọp trước công đường ở Phong Đô. Xích Văn oán hận bẩm trình lên vị vương giả và các phán quan, rằng tuy đúng như lời phán quan nói, nhưng kiếp rận thì thực không thể thấy gì.

 

Vị vương giả quay sang phán quan lần trước cười ha hả bảo:  “Ngài thực là làm khó nó quá! Tô Tử Chiêm ở nước Tống có câu thơ rất hay rằng: “Bất thức Lư sơn chân diện mục, Chỉ duyên thân tại thử sơn trung”. Ngài cho nó làm rận mà đi ngắm mỹ nhân, thì khác nào đứng trong hang mà ngắm núi Lư Sơn chứ? Thôi đã có nhã ý như vậy, thì cho hắn lại làm kiếp người vậy.”

Vị phán quan lại bảo: “Xin tuân mệnh đại vương, có điều, chẳng phải chỉ để hắn biết “Lư sơn chân diện mục” thôi đâu, cái nợ phong nguyệt, cái duyên thiền môn hắn vẫn còn phải đeo đẳng đấy ạ!”

Vị vương giả gật đầu, tức thì quỷ xứ lại lôi Văn quăng vào cái túi đen như lần trước.

 

Lần này Xích Văn đã được giáng sinh làm người, làm con nhà họ Phi ở trấn Sơn Nam, lấy tên là Chí Thiện. Vì có căn duyên xây bậc chùa khi xưa, nên từ nhỏ đã thích việc xây đắp, lớn lên thạo nghề thổ mộc, có thể giám sát chỉ đạo hàng trăm người cùng lúc. Vẫn nhớ niềm mong mỏi thổ lộ với Phán quan nên lần này, mới quá tuổi thành niên, Phi đã lập tức đòi cha mẹ hỏi cho cô nương nhà họ Vi ở Bố Hải Khẩu, nhanh chóng có liền hai con, một trai một gái.

 

Nhưng vì túc duyên phong nguyệt cùng nợ thiền môn nên Phi không ở yên được ở quê nhà, dù vợ một mực cản ngăn vẫn nhất quyết lên kinh dựng thêm một cơ nghiệp ở bên sông Tô Lịch. Phủ đệ của Phi ở đó rộng rãi to lớn, đi xe từ ngoài cổng vào phải qua mấy lớp cửa, cầu thang ngoắt nghéo mấy lớp mới đi hết các tầng. Trong dinh lại đặt riêng một chỗ gọi là Lê Hương Viện để cho các ca nương cầm khách luyện rèn ca múa.

 

(Phần II )

Tác giả bài viết: Thày Lý Châu Hải Đường
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
+ Xem phản hồi    - Gửi phản hồi   Print Friendly and PDF

Ý kiến bạn đọc

 
Powered by Nukeviet