Phong Quốc vương truyện

Đăng lúc: Thứ bảy - 08/03/2014 01:04 - Người đăng bài viết: phichan
Phía bắc nước Nam có một con sông lớn. Chảy đến đây thì vòng ra như hình cái tai nên được gọi là Nhĩ hà. Vùng đất trong lòng Nhĩ hà là nơi sinh sống của gia đình họ Châu. Vốn là một danh gia vọng tộc.
Tổ tiên của Châu vốn họ Hồng người thôn Phúc nguyên thủy huyện Hoa. Làm vương trong triều Thái bình thiên quốc. Khi nước bị phá, chạy loạn về xứ nam, đến vùng đất Kiến an, đổi họ lập nghiệp, mưu đồ phục quốc. Công việc không thành. Nghĩ đời mình không phục quốc được, đành để đời sau. Bèn lấy vợ, sinh ra Châu, tự Hải Đường, hiệu Minh Thành. Ý ngầm mong mỏi con có thể nối chí mà lấy lại nước.
 Năm Châu bảy tuổi, cùng bọn trẻ nhà quê chơi đùa. Có người khách ở phương bắc đi qua, thấy Châu, vỗ tay cười ầm lên. Châu ông thấy lạ, mời khách vào nhà. Khách nói:
- Tôi thấy thằng bé này có tướng đế vương. Song không phải vương xứ nam cũng không phải vương đất bắc nên lạ mà cười.
Ông mừng, tiếp đãi khách rất hậu. Từ đó kén người dạy chữ và tiếng cố quốc cho con. Thấy vùng Nhĩ hà có thế sông và đất hữu tình. Là nơi đất phát, bèn dời cả gia đình về đó.
Châu học giỏi, thông minh nhưng ham chơi. Lại cậy tài, hay bắt bẻ chữ nghĩa người khác. Ông nhiều lần giận, đánh rất đau song vẫn chứng nào tật ấy. Có lần giảng cho con về câu đối. Ông lấy câu của cổ nhân: Lục mộc sân sân, đào lê cúc tùng bá trắc(1) làm thí dụ cho câu đối không thể đối được. Châu thưa:
- Thưa cha! Ở đời không có gì không làm được. Câu đối trên đối cho thật chỉnh thời không được, nhưng để đối cho được bảy tám phần cũng không có gì làm khó.
Ông ngạc nhiên, khiến Châu đối. Châu đọc ngay:
- Tứ sơn xuất xuất, Nga mi hoa thái côn lôn(2)
Câu đối chỉ chỉnh bảy tám phần như lời Châu, nhưng với một đứa trẻ mười tuổi, như vậy đã là giỏi lắm.
Lần khác, ông dẫn Châu ra thành tây cày ruộng. Ông đọc:
- Thành tây hữu thổ, vô tâm tư điền, hà nhân khả sử nhân dữ lại. (Phía tây thành có đất, không có lòng lo cho đồng ruộng, hỏi ai có thế sai khiến được người dân và kẻ lại)
Châu ứng khẩu đối ngay:
- Đình lý nhất đinh, một qua vũ chỉ, nhàn mộc môn hưu mộc cộng nhân (Trong đình có người, buông giáo thì võ ngừng, Nhàn cổng gỗ, người và cây đều nghỉ).
Nguyên câu của ông chơi chữ: Phía tả chữ thành là chữ thổ, chữ tâm với chữ điền ghép thành chữ tư, chữ nhân chữ khả ghép thành chữ hà, chữ sử gồm chữ nhân và chữ lại. Câu của Châu cũng chơi chữ như thế: Trong chữ đình có chữ đinh, chữ vũ bỏ chữ qua đi còn lại chữ chỉ, Chữ nhàn gồm chữ môn và chữ mộc ghép thành, chữ hưu cũng do chữ nhân và mộc ghép thành. Câu đối chỉnh nhưng ông nghe xong liền nổi giận mắng:
- Tao nuôi mày, những mong phục Quốc. Nào ngờ mày chỉ ưa nhàn rỗi, rong chơi, buông bỏ qua thuẫn thì làm sao phục Quốc cho được.
Châu cãi:
- Cầm binh đánh trận chỉ là việc của mãnh tướng. Bậc đế vương phải nghĩ đến hưu nhàn sức dân. Buông bỏ chiến tranh mới là việc trị Quốc lâu dài vậy.
Ông thấy lạ bèn tha cho Châu không đánh đòn.
Một lần có cây tầm gửi mọc trên thân cây nhãn trong vườn nhà. Ông liền gọi Châu ra xem và ra vế đối:
- Bản mạt vị tằng do nhất mộc (Gốc và ngọn chưa từng là một cây. Cũng có nghĩa Chữ bản, chữ mạt, chữ vị là do chữ nhất và chữ mộc ghép thành)
Châu đối lại:
- Phu yểu thiên thành sự nhị nhân (Chồng chết sớm, trời làm cho phải thờ hai chồng. Cũng có nghĩa chữ phu chữ yểu chữ thiên là do chữ nhị và chữ nhân ghép thành).
Ông nghe xong thở dài nghĩ:
- Thằng con mình nghiệp phong lưu quá nặng. E rằng nó lấy được nước là nhờ đàn bà song cũng vì đàn bà mà mất nước.
Bèn đem nguyện vọng phục Quốc ra nói với Châu. Châu nghiêm mặt mà thề nối chí cha đến cùng. Từ đó tu tỉnh, một lòng lo chuyện cứu nước.
Song le, đến xứ nam lập nghiệp đã mấy đời, lại xảy  nhiều can qua. Tiền bạc tổ tiên để lại đã vơi cạn. Tả hữu không có mấy người. Đại nghiệp của cha con Châu ngày càng bế tắc. Lòng người nhớ về Thái bình thiên quốc xưa không có mấy ai. Noi gương công tử nước Tề nước Tấn xưa. Châu bàn với cha việc mượn binh nước Nam. Ông nghe theo, vét sạch vàng bạc trong nhà ra đút lót cho quan lại cầu thân. Mong được tiến cử lên triều đình. Kể đã tốn kém đến cả vạn lạng. Triều đình cũng hiểu nguyện vọng. Có điều vua tôi nước Nam lúc này sợ phương bắc như sợ cọp. Các quan nói giúp cho cha con Châu hoặc bị tù đày hoặc bị phạt trượng. Dần dần không còn ai dám đứng ra nói giúp nữa. Không những thế, triều đình còn sức cho nha lại địa phương sách nhiễu gia tộc họ Châu đến khổ. Châu còn trẻ, qua nhiều đời, mối hận mất nước không sâu sắc như cha anh nên gặp khó là chùn lại. Không còn hăng hái như lúc đầu. Chỉ cầu được bình an đã lấy làm may mắn. Năm 30 tuổi lấy con gái họ Trịnh ở ấp Thái hà. Là con gái quan thượng thư về hưu. Sinh một con trai đặt tên là An. Từ đó gia cảnh khấm khá. Châu lại đổi tính, rong chơi như ngày nào.
Năm Minh Triết thứ mười,  Có tin đồn Phật tổ hiển linh ở núi Lạn kha. Châu cùng bằng hữu dẫn hơn chục ca vũ xuôi thuyền đến bái Phật. Đến nơi, Phật đâu chẳng thấy, chỉ có một vị sư già đang ngồi gõ mõ trong ngôi cổ tự. Trên tường có treo bức đại tự viết hai chữ "an nhiên" theo lối hành khải. Châu trông thấy, máu tinh nghịch nổi lên, ngồi xếp bằng kết tội nhà sư không giữ giới lại còn ăn thịt. Nhà sư nói:
- A di đà phật! bần tăng chưa từng biết thí chủ. Tại sao lại vu oan giá họa làm vậy.
Châu cười hì hì chỉ bức đại tự, miệng ngâm nga:
- Trên thời nhà lớn gái xinh, dưới thời chó nướng thơm rinh cả làng.
Nguyên chữ an gồm có bộ miên - mái nhà và chữ nữ - người con gái. Trong chữ nhiên có chữ khuyển bên trên chữ hỏa, Nhà sư hiểu ra nổi giận mắng:
- Thí chủ là bậc đế vương nhưng tính tình khinh mạn, mắc tội khẩu nghiệt. E rằng ngôi báu chẳng được dài lâu.
Châu nghe chữ "đế vương" giật mình ngồi thẳng dậy, tạ lỗi cùng nhà sư nói:
- Quả thực cũng có chí lớn song chưa có kết quả gì.
Nhà sư mỉnh cười gật gù đáp:
- Sẽ ứng ngay thôi! Sẽ ứng ngay thôi!.
Vừa dứt lời, chợt có sứ giả mang chiếu gọi Châu vào triều. Châu mừng rỡ, lật đật bỏ lại bằng hữu lại, theo sứ mà đi.
Vào triều, quân hổ báo sắp hàng chờ sẵn, quân nanh vuốt xúm xít xung quanh. Ngài ngự nghênh ngang xuống thềm hỏi thăm, nói:
- Ta nghe danh tiên sinh đã lâu. Nay gặp mặt quả là đồn vẫn như lời.
Châu quỳ rạp tạ ơn. Vua lại nói:
- Tiểu nữ và tiên sinh vốn có túc duyên. Nay đã tròn mười ba tuổi nên chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ thành hôn.
Quan thái bốc vâng mệnh giở sổ tra cứu nói:
- Hôm nay chính là ngày Bất tương, tốt nhất cho hôn sự. Sẵn có Phò mã ở đây, cúi xin hoàng thượng ban hôn lễ.
Vua cả mừng chuẩn y. Cho người gọi công chúa. Một lát, có mùi thơm nhè nhẹ, Châu lén nhìn thấy công chúa trang phục rực rỡ, nhỏ nhắn, xinh đẹp vô cùng. Châu thần hồn điên đảo chỉ mong sao buổi lễ chóng qua để được riêng cùng nàng.
Từ đó Châu cùng vợ sống ở phò mã cung. Hoan lạc vui thú không kể xiết. Công chúa vốn kiệm lời, tiếng nói nhỏ mà thanh. Từ da thịt đến hơi thở thơm mùi phấn hoa. Mùa nào vị ấy. Châu ngờ nàng xức nước hoa. Nàng chối:
- Thiếp tự nhỏ, cơ thể đã có mùi hương tự nhiên như vậy. Chưa từng dùng mỹ phẩm.
Hỏi tên, nàng đáp:
- Thiếp họ Phong, tên Cát Tường. Thường được gọi là Cát Cát công chúa.
Châu ngẫm trong triều không có vương nào họ Phong. Ngờ rằng nàng không phải người nam. Nàng nói:
- Nơi đây là Phong Quốc, không phải nước Nam song cũng không xa quê hương chàng là mấy. Phong Quốc tuy nhỏ nhưng cũng là bá chủ một phương. Chắc không đến nỗi làm chàng xấu hổ.
Châu từ đó không thắc mắc nữa. Hàng ngày cùng nàng vui thú. Nàng sức yếu, nhiều khi không đáp ứng nổi, nài xin Châu tha cho hoặc gọi con hầu thay thế. Châu cũng không lấy làm điều. Ngặt một nỗi, bữa ăn chỉ là rau cỏ. Châu dáng người cao gầy nhưng ăn rất khỏe, lại hay rượu thịt. Hỏi. Nàng thản nhiên:
- Thiếp ăn chay. Cả Phong Quốc chưa bao giờ ăn mặn.
Châu lấy hết tài hùng biện khuyên nàng ăn mặn. Nàng khuyên Châu:
- Thiếp không nói ăn mặn là xấu. Song khi con vật bị giết thịt thường đau đớn, Oán khí đi vào thớ thịt. Chàng ăn mặn nhiều, vô tình tích nhiều oán khí, không tốt cho hậu vận.
Châu từ đó không nài ép nữa, song vẫn thèm thịt. Bèn thác đi săn, giết các con vật mà ăn. Nàng khóc can ngăn, Châu hứa nhưng vẫn lén đi. Một lần, bỗng thấy người đau đớn, ho khan liên tục. Nàng biết nhưng lờ đi. Đến khi Châu đau quá, cầu xin nàng gọi thái y chữa trị. Nàng cười:
- Bệnh này có gì phải mời thái y. Chỉ là lén ăn thịt nhiều mà mắc phải thôi.
Châu cũng thú thật, cầu xin nàng chữa cho. Hứa sẽ bỏ ăn mặn. Nàng bảo Châu há miệng, gắp trong cổ họng Châu một sợi lông dài chừng nửa thốn, quăn và đen. Nàng nói:
- Không sai. Giống vật mới có lông thế này. Còn dám ăn vụng nữa thôi?
Châu cười rộ. Cười xong thì bệnh khỏi.
 Mùa xuân năm ấy, vua băng. Vì không có con giai nên ngôi báu truyền cho Châu. Châu chỉ ham nữ sắc và thơ phú. Việc triều chính một tay nàng đảm nhận. Ban đầu cũng hỏi ý kiến Châu. Châu thường trả lời qua quít, thuận theo ý công chúa. Lâu ngày, công chúa cũng không buồn hỏi ý Châu nữa mà tự mình quyết hết mọi việc. Thảng có khi nhớ tới việc quốc gia đại sự. Châu hỏi nàng:
- Bữa trước nàng nói Phong Quốc cũng là bá chủ một phương, vậy chư hầu là những nước nào?
Nàng đáp:
- Chư hầu Phong Quốc khá nhiều. Phía tây có Thanh Đình, phía nam có Thiền Quốc, phía đông có Điệp Quốc và một vài nước nhỏ nữa.
Lại hỏi:
- Thế Phong Quốc có nội thuộc nước nào không?
Đáp:
- Có Điểu Quốc ở phương bắc. Nước này man rợ hung dữ nhưng khỏe mạnh. Thường sang nước ta gây sự. Triều đình nín nhịn đã quen, không dám chống lại.
Lại dặn Châu:
- Người dân nước Điều khỏe mạnh mà man rợ hiếu sát. Chàng chớ nên giao du với họ.
Châu nghe tai nọ tai kia mà ừ ào cho qua chuyện. Nàng thở dài, không nói gì thêm.
Châu ngày ngày nhàn rỗi trong cung, sinh buồn chán. Cùng mấy tên hầu ra ngoại thành săn bắn làm vui. Một lần bắn trúng con sơn dương. Con vật khỏe quá, đeo cả tên mà chạy. Châu phóng ngựa đuổi theo, lạc cả đám hầu. Một lát, đuổi kịp con vật, thấy đeo hai mũi tên. Một của Châu, một của ai đó. Đang ngạc nhiên thời thấy một thiếu phụ phóng ngựa đến. Thiếu phụ ngoài hai mươi, mặc bộ võ phục màu xám, cổ đeo chuỗi hạt cườm tinh xảo, phong tư kiềm diễm. Hai người nhìn nhau, bỗng chốc sa vào lưới tình điên đảo hoan lạc. Cát Cát công chúa vốn nhu thuận, không nồng nhiệt trong việc ái ân. Nay gặp thiếu phụ hoang dã, Châu như người đói khát lâu ngày, từ đó không ngày nào không đi săn để gặp nàng. Công chúa biết chuyện, song cho rằng nam nhi dăm thê bảy thiếp là chuyện thường, không lấy đó làm điều.
Bỗng nhiên xảy ra binh biến. Giặc là nước Điểu mà Phong quốc vẫn thần phục bấy lâu. Thế giặc mạnh như chẻ tre. Công văn cáo cấp bay về triều như bươm bướm. Công chúa lo sợ cho người dò la. Mới biết người thiếu phụ đi săn với Châu vốn là thái tử phi nước Điểu. Cho là bị Châu làm nhục, nổi giận dấy can qua. Lại đòi công chúa phải sang làm thiếp để rửa hờn. Châu nghe chuyện, hối hận muốn quyên sinh. Nàng cản lại nói:
- Dù sao chuyện cũng đã xảy ra. Trước hãy lo lánh nạn rồi tính chuyện phục quốc cũng chưa muộn.
Châu nhớ chuyện tổ tiên, khuyên nàng sang chư hầu cầu viện. Nàng nói:
- Xưa nay phù thịnh, ai phù suy. Các nước ấy vốn thần phục vì Phong Quốc mạnh mà áp chế họ. Nay gặp nạn chắc họ không cứu, lại bắt mình dâng cho nước điểu không chừng.
Ngẫm nghĩ một lát, nàng hỏi:
- Nghe quốc vương nước chàng thường tự hấng trách nhiệm gìn giữ hòa bình thế giới. Nay ta  gặp nạn, không giúp binh chắc cũng không đến nỗi làm hại. Nơi đây cách chỗ chàng không xa. Hay ta về đó lánh nạn?
Châu buồn bã đáp:
- Quốc vương nước ấy vốn gian dối. Hay nói một đằng làm một nẻo. Lại độc ác vô cùng! Với bản dân, họ còn làm hại huống chi ta là giống vong quốc. Quyết không thể được.
Còn đang bàn tính, chợt có tin báo giặc đã đốt cửa cung. Lửa cháy ngút trời, tiếng la khóc khắp nơi. Châu bàn:
- Hay tạm về nhà ta, mai danh ẩn tích rồi tính kế lâu dài. Ngặt nỗi, quê nhà đã có gia thất, e khổ cho nàng.
Công chúa khóc:
- Còn sự lựa chọn nữa ru!
Châu dắt vợ theo mật đạo lẻn ra ngoài thành. Chợt có một con chim lớn sà xuống cắp công chúa. Nàng la khóc thất thanh. Châu rút gươm, nhảy lên, chém vào chim. Chim tức mình đập cánh vào đầu Châu. Châu ngã lăn ra ngất đi...
Có tiếng người lay gọi Châu. Mở mắt, thấy mình vẫn nằm trong chùa. Mọi người lo lắng săn sóc cho Châu nói:
- Anh bỗng dưng ngã ra ngất. Ai này đều sợ hãi.
Nhà sư mỉm cười nói:
- Quyền cao chức trọng, vợ đẹp con khôn thảy đều phù du như mộng mà thôi. Buông bỏ tất cả mới thực chánh pháp.
Đoạn quay mặt vào vách mà thiền. Ai hỏi cũng không trả lời.
Châu trở về, ngơ ngẩn cả tháng trời. Vợ cho là bị nhập, cầu khấn khắp nơi. Mỗi khi thầy pháp đến nhà thường bị Châu mắng, đuổi đi. Về sau, Châu dần hồi tỉnh, bèn lang thang một mình ra bãi sông. Bỗng bàng hoàng như găp cảnh xưa. Một mình xăm xăm đi vào. Thấy một tổ ong lớn nhưng hoang vắng. Ong thấy Châu thì bay lại xúm xít xung quanh như mừng rỡ. Châu ngạc nhiên tìm chủ vườn hỏi thăm. Chủ vườn nói:
- Nơi đây vốn là nơi lão nuôi ong. Cách đây hơn tháng, có đàn chim đến phá, bắt mất ong chúa. Gây dựng mãi mới được một hai phần.
Châu sực tỉnh, nhận ra Phong Quốc chính là tổ ong lớn này. Cát cát công chúa có lẽ là con ong chúa bạc mệnh kia. Từ đó mấy lần đến ngủ ở vườn, mong gặp lại trong mộng nhưng không được.
Về sau, vợ Châu sinh thêm một con trai. Châu đặt tên con là Tường, chắc để tưởng nhớ công chúa.
 
***
Chú thích:
(1) Nghĩa: sáu cây sum suê: đào, lê, cúc, tùng bá trắc
Ở đây là câu đối đóng để người khác không đối được. Sáu chữ mộc (木) tạo thành hai chữ sân (). Trong các chữ đào lê cúc tùng bá trắc, mỗi chữ có một chữ mộc là vừa đủ 6 chữ
 
(2) Nghĩa: Bốn núi cùng xuất: Nga mi, hoa sơn, thái sơn và núi côn lôn. Bốn chữ sơn (山) ghép thành hai chữ xuất (出) trong mấy chữ Nga, hoa, thái, côn lại có 4 chữ sơn nữa là vừa đủ 4. Song nói chỉ đối chỉnh bảy tám phần vì ở vế thượng cả 6 chữ có bộ mộc còn về hạ chỉ có 4 chữ có chữ sơn.
Tác giả bài viết: Cụ Chánh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

+ Xem phản hồi    - Gửi phản hồi   Print Friendly and PDF

Ý kiến bạn đọc

 
Powered by Nukeviet