Nhàn đàm: Làm người

Đăng lúc: Thứ tư - 20/06/2012 23:42 - Người đăng bài viết: phichan
Bài viết trên yahoo blog ngày 02 - 01 - 2008

(Nhân buổi nói chuyện với nhân huynh Châu Hải Đường mà viết)

Thế là năm 2008 đã sang được vài ngày. Có lẽ chả còn nơi nào trên thế giới còn nằm ở năm 2007 đầy tai ương nữa. Năm mới, tất vạn sự phải mới. Nếu cái cũ là xấu là dơ bẩn, là khốn quẫn nhiên cái mới phải xinh, phải nhuận phải tươi đẹp lắm.

Kẻ hèn này, sinh thời cũng được ăn học. Chữ nghĩa đủ để viết nổi họ tên mình. Cố nhiên cũng được đọc qua vài quyển sách đông tây kim cổ. Nhân lấy là vốn, đầu năm kính cẩn khom lưng mà hầu chuyện các ngài. Vẫn biết thế giới vốn vô hạn mà sở học của mỗi người thì ngược lại. Biết đến đâu, tâu đến đấy. Chỉ mong các ngài đánh chữ đại xá đi cho vậy. Nào! Rước các ngài!

Đến nay, quan niệm về thế giới vẫn có hai luận thuyết. Đó là hữu thần và vô thần. Cả hai phái này đều có những lý lẽ, dẫn chứng cho rằng mình là đúng. Vốn không có ý định ủng hộ hoặc bài xích bên nào, tôi chỉ xin đứng trên quan niệm của cả hai phía mà nói những điều muốn nói vậy thôi.

Phái hữu thần: Phái này quan niệm thế giới vốn có trời đất và người. Trên trời, dưới đất là do các vị thần, tiên, quỷ cai quản. Ở giữa là thế giới loài người. Lẽ dĩ nhiên, loài người khi còn là người không thể xâm phạm vào được thế giới của quỷ thần song các vị thần linh, ma quỷ thì ngược lại. Các ngài có thể xâm nhập, tồn tại và tác động đến thế giới loài người. Xin các ngài hiểu cho rằng, chữ ma quỷ tôi dùng ở đây không có nghĩa là chỉ thế lực hắc ám nào trong thế giới siêu nhiên. Ma quỷ ở đây là chỉ thế giới của những người đã khuất. Có thể là tổ tiên, ông bà chúng ta hay là chính chúng ta mai sau vậy.

Khi đã có tam tài, lẽ dĩ nhiên, loài người là loài có ít quyền năng nhất phải có nghĩa vụ phụng sự thế giới siêu nhiên kia. Đó là tín đồ thì phụng sự chúa, con cháu thờ phụng tổ tiên. Xin cũng hiểu ngay rằng: Chúa ở đây không phải chỉ riêng đức Jesu hay Đức Ala mà là nói chung các vị thần linh cai quản cả ba thế giới (trời, đất và người) vậy.

Việc thờ phụng gồm có cúng lễ cho các cụ nhân các dịp lễ, sóc, vọng, kỵ nhật. Ngày xưa, mỗi khi một vị quân vương ra đi, người ta thường chôn sống theo các nô lệ, kẻ hầu người hạ, súc vật, đồ dùng… theo. Với quan niệm trần sao âm vậy. Để sang thế giới bên kia các cụ có cái mà dùng. Đến đời nhà Tần, việc chôn theo người vật còn sống đã được huỷ bỏ vì … bất nhân quá. Người ta chôn theo người quá cố những bức tượng và đồ dùng thay cho vật sống. Tuy nhiên, như thế chỉ có thể áp dụng với bậc quân vương. Còn với thường dân, về sau thay vì đồ vật đắt tiền, người ta đốt vàng mã hoặc những thứ như thật song bằng giấy. Có lẽ với sự thần thông của siêu nhiên. Những vật giấy đó cũng sẽ trở thành vật thực cho các cụ sử dụng. Những thứ vàng tiền giả này, đời nay ta gọi là tiền … âm phủ vậy.

Tuy nhiên. Theo quan điểm của nhà Phật. Con người khi chết đi thường có 6 con đường: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la, trời và người. Như vậy hẳn các cụ cũng chả dùng gì đến cái thứ tiền … giả kia. Bởi nhẽ, sáu giới nhưng chỉ có ba con đường: Bị đày đoạ vì tội lỗi kiếp trước, trở lại đầu thai và hoá thân thành tiên phật trên thiên đường. Con đường thứ nhất: Dẫu có tiền cũng không có quyền tiêu. Con đường thứ hai: Phải dùng tiền thật chứ không thể dùng tiền giả còn con đường thứ ba vốn muốn gì có nấy thì cần quái gì tiền?

Có ngài nghĩ rằng, cũng như dương thế. Đồng tiền có sức mạnh vạn năng ở thế giới bên kia chăng? Như một ông tỷ phú người Nga la tư nói: “Cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua bằng rất nhiều tiền” chăng? Các ngài hãy nghĩ đến ông Mục Kiền Liên tôn giả. Đắc đạo như thế, quyền lực như thế mà chả cứu nổi mẹ mình khỏi bị hình phạt dưới âm phủ. Các ngài là thứ gì mà muốn mua chuộc cả cõi âm? Cái chết là thứ công bằng tuyệt đối với mọi sinh linh. Thế giới của cõi âm cũng là thế giới tuyệt đối công bằng. Nhân nào, tất quả ấy. Con người, ông cũng vậy mà tôi cũng vậy, không ai có thể thoát được nghiệp chướng do mình gây nên. Muốn có hiếu với tổ tiên, không gì bằng học tập tôn giả. Nghĩa là dùng lòng hiếu của mình, dùng ân đức của chính đời mình mà chuộc lỗi cho tổ tiên và tích luỹ cho con cháu. Các ngài hãy làm nhiều điều ân đức với chính những người sống quanh mình. Vua hãy hết đạo làm vua, bề tôi hết đạo bề tôi, cùng cứu giúp cho những người cùng khổ quanh mình. Mà phải hết sức công tâm và vô tư nữa.

Chuyện có một ông mõ toà theo cơ đốc giáo mua chỗ cho mình trên thiên đường. Ông ta tung tiền ra cho mọi người một cách vô tội vạ. Hàng ngày ông ta hài lòng nhìn cuốn sổ ghi số tiền ông ta ban phát. Thế nhưng. Khi chết đi, thánh Pi – e không hề đếm xỉa gì đến số tiền ông đã bỏ ra. Ngài cho ông vào thiên đường vì ông là một mõ toà nhưng đã “đả đảo những kẻ cho thuê nhà” và chết khi đang bảo vệ một người đàn bà bị đuổi ra khỏi nhà.

Ở làng tôi có dựng bia ghi tên những người góp tiền của xây dựng chùa làng. Rất ngạc nhiên khi thấy người góp một ngàn đồng cũng được ghi tên như người góp bốn trăm triệu đồng. Hỏi? Ông từ trả lời: Đối với các cụ, Một ngàn đồng mà có thật tâm thì giá trị cũng như bốn trăm triệu đồng vậy. Bởi đó là đồng tiền mà người ta phải đổ mồ hôi ra mới kiếm được.

Mới biết. Thế giới bên kia anh minh lắm lắm!!!

Nhưng!

Tôi viết như vậy, không phải là xui các ngài chỉ nên góp một ngàn đồng thôi. Bởi nhẽ, thế giới ta đang ở, đồng tiền quả có sức mạnh vạn năng. Nếu chỉ một ngàn đồng thì không thể dựng nổi chùa. Nếu chỉ một ngàn đồng thì không thể giúp cho người nghèo một bữa ăn. Vấn đề các ngài có khả năng bao nhiêu thì giúp bấy nhiêu. Cốt là ở thành tâm.

Hiện nay, trên các chương trình từ thiện gây quỹ. Tôi rất khâm phục những cháu bé, những người giấu tên đóng góp. Bởi họ giúp đỡ là thiệt tình. Với các đại gia có khi góp đến hàng tỷ đồng nhưng đòi hỏi thiên hạ phải biết đến tên mình thì cũng … thường thôi. Một nhẽ là họ đang có cơ tâm vậy.

Phải chăng tôi đang khuyên các ngài không nên cúng bái, không nên đốt tiền vàng cho tổ tiên?

Thưa! Không phải vậy. Một lẽ giản đơn, các cụ tuy thể xác mất đi nhưng tinh anh vẫn còn đâu đây với chúng ta. Việc cúng bái theo lễ, việc hoá chút ít vàng hương cho các cụ cũng là tỏ chút lòng thành của con cháu với vong linh của ông bà cha mẹ, là nhớ tới các cụ. Cho các cụ khỏi tủi. Tôi chỉ mong các vị thay vì đốt lãng phí rất nhiều tiền của vào việc đốt vàng mã, hãy dùng nó để cứu giúp những người bất hạnh đang hiện hữu quanh ta. Cũng có khi chỉ là một việc nhỏ như dắt một bà cụ sang đường, chở một người bị nạn đi cấp cứu cũng giúp cho ta tích âm đức cho tổ tiên và cho con cháu. Mai một có trở thành cát bụi cũng không phải hổ thẹn vì đã uổng phí một đời vậy.

Phái vô thần: Phái này quan niệm chỉ có duy nhất một thế giới mà ta đang sống và mọi hiện tượng siêu nhiên đều có thể soi rọi bằng ánh sáng của khoa học. Quỷ thần, thế giới cõi âm,… tất cả đều là nhảm nhí. Như vậy, ngoài những người lương thiện vì bản chất vốn lương thiện ra, hẳn không ít người cho rằng: Đã không có cõi âm, không có luật nhân quả,… chết là hết. Vậy tại sao không đục khoét đi? Không mưu mô đi? Cốt là sướng cái thân xác bây giờ… ?

Thưa rằng! Kể ra theo phái hữu thần, việc báo ứng phải chờ đến khi người ta chết chứ nếu theo vô thần thì còn chóng hơn. Có thể báo ứng ngay ở kiếp này.

Thứ nhất. Đành rằng tổ tiên các ngài chết rồi không biết gì nhưng con cháu các ngài còn sống sờ sờ ra đấy. Hẳn sẽ phải mang trên trán nỗi nhục là con một kẻ mọt dân hại nước. Nhân chi sơ, tính bản thiện. Lòng yêu thiện ghét ác vốn là bản tính của loài người.

Thứ hai. Những thứ phù du mà các ngài dùng mưu mô, thủ đoạn mà có được liệu có mãi ở với các ngài hay con cháu các ngài không? Khi các ngài thất thế hay chết đi, “chúng nó lại chả cho ăn bùn” hay sao. Quy luật cá đớp cá, bàn tay không che nổi mặt trời. Hẳn sẽ có lúc các ngài phải hối tiếc vì những việc mình đã làm. Đã có bao tấm gương trước mắt. Khối người quyền nghiêng thiên hạ vẫn phải lên đoạn đầu đài, hoặc lưu vong làm kiếp chó trên xứ người đó sao?

Túm lại: Dù vô thần hay hữu thần. Luôn có câu: cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Chớ nên để khi chết mà vẫn chưa được sống. Như anh nhà giàu nọ.

Chuyện dân gian kể rằng: Có một anh nhà giàu chết. Người làm văn tế thấy rất chi là khó nghĩ. Bởi lẽ, khi sống anh này chả làm nên công trạng gì. Lại cũng chẳng giúp đỡ ai. Túm lại là chẳng có gì để viết được một bài văn tế cả. Cho dù “văn tế là để ca ngợi công lao của người đã chết vốn không biết trơ và không biết ngượng”. Cuối cùng anh ta viết bài văn tế thế này: “Ông này bác mẹ sinh ra. Lọt lòng ông khóc oa oa. Mỗi ngày ông một nhớn tướng. Thế rồi ông trở về già. Bây giờ ông hoá ra ma”.

Trên đây là mấy dòng mạn đàm tôi viết về phái thường dân. Những người hoặc không có quan tước gì hoặc có nhưng chưa hẳn đã là bậc khai quốc, bậc thánh nhân. Còn một bậc nữa, khi nói tới ngài, theo lệ trung thần tất ta phải chắp hai tay lại một cách trịnh trọng. Thưa! đó là những bậc quân vương vậy. Những người vốn là con trời, được trời sai xuống để cai trị các con dân dưới hạ giới. Vẫn biết bề tôi mà bàn về vua là tội khi quân. Song vốn thời đại dân chủ, lại không muốn bài viết còn dở dang. Vô phép các ngài, cho tôi được khi quân một lần thôi vậy.

Phàm đã là vua thì hẳn phải là người to nhất trong nước. Người không chỉ cai trị dân đen. Ngài còn cai quản cả thánh thần nữa. Chẳng thế mà vua có quyền phong tước cho các vị thần lính đã giúp dân giúp nước hay đơn giản hơn là thần linh được vua yêu thích. Vua lại cũng có quyền phong thần cho những người còn sống nếu họ có công lao gì đó. Hòng khi chết, những người này được tham dự vào hàng ngũ thần linh, hưởng cúng tế của muôn dân.

Thế thì sao?

Các ngài hẳn không ai không biết câu ca dao:

Đời vua Thái Tổ Thái Tông

Lúa mọc đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn.

Xin thưa! Vua Thái Tổ ở đây chính là vị vua khai quốc. Khai mở nên một triều đại mới tươi đẹp hơn hẳn triều đại cũ nát. Còn Thái Tông đây chính là con của vua Thái Tổ đấy ạ.

Vua Thái Tổ vốn sinh ra trong dân gian. Trước một triều đại suy đồi, muôn dân khốn khổ. Ngài mới đứng ra thế thiên hành đạo, giương cao cờ nghĩa. Quét sạch điêu tàn để dựng nên triều đại mới hợp lòng dân hơn. Thường khi thành công thì ngài đã cao tuổi. Trị vì một vài năm rồi băng. Nhường ngôi báu cho thái tử. Người con đã sát cánh cùng ngài ngay từ buổi đầu dựng nước. Vốn sinh trong nghèo khó, lại lao tâm khổ tứ trong cuộc dựng nước nên hai đời vua này thường tuổi thọ không cao. Có lẽ chỉ 20 đến 30 năm cho mỗi đời. Đất nước mà các ngài phải đổ máu vào đó, phải hy sinh biết bao đồng chí đồng bào mới giành được tất nhiên các ngài phải yêu quý nó vô cùng. Cố nhiên ngài phải lo lắng về nó chăm sóc nó từng ly từng tý mới mong nó được vững bền. Việc đất nước được thái bình thịnh trị cũng từ đó mà ra cả.

Từ xưa. Đông cũng như tây, luôn lấy câu “hiền tài thị quốc gia nguyên khí” là kim chỉ nam. Hán Cao Tổ đang ăn phải nhả miếng cơm, đang gội phải vẩy tóc để tiếp người hiền. Làm in như chỉ chậm một chút thì người hiền sẽ đi mất vậy. Có thế mới dựng nên nhà Hán 400 năm.

Lê Thái Tổ thì “Đãi hiền chi xa thường cấp cấp dĩ hư tả” (Cỗ xe cầu hiền còn chăm chắm thường dành phía tả) để lập nên nhà Hậu lê

Quang Trung hoàng đế không ngần ngại thu nạp Ngô Thì Nhậm vốn là nhân sĩ Bắc Hà mới lập nên triều Tây Sơn tuy ngắn nhưng chói lọi.

Thế Tổ Gia Long không từ chối mưu lược của một kẻ thường dân mới thắng được Quang Toản mà làm nên triều Nguyễn.

Xưa nay chưa có vị minh quân nào mà không có những bậc hiền tài phụ giúp.

Giá như các vị vua ấy cũng chỉ cho một tuần tiếp dân một lần, mỗi lần tiếp lại hẹn lần hẹn lữa, phải theo từng cấp từ dưới lên hẳn các ngài có sống đến vạn kiếp cũng chỉ là một lũ giá ao túi cơm thôi. Ích gì!

Nếu các vị vua ấy, mỗi khi cổ động lòng yêu nước của dân chúng lại phải đợi sự cho phép của chính quyền đương thời hẳn thế giới ngày nay vẫn còn đang trong chế độ … đồ đá .

Sau đời Thái Tông, các triều vua cũng dần suy thoái mà đến chỗ mất nước. Điều này không phải không có nguyên do.

Thứ nhất: Các đời vua về sau thường sinh ra khi đất nước đã thái bình. Lại được chấm mút mùi đời trên nhung lụa quá sớm.

Thứ hai: Các ngài không phải lao tâm khổ tứ gì mà bỗng nhiên uy quyền tuyệt đỉnh. Lẽ nào không cảm thấy “choáng váng” vì lộc trời quá hậu?

Thứ ba: Hệ quả hai điều trên, cố nhiên các ngài coi việc hưởng thụ là lẽ đương nhiên. Tha hồ ăn chơi xa xỉ. Không cần biết đến nỗi khổ của muôn dân.

Thứ tư: Vua cha đã chết nhưng các mãnh tướng của vua cha nhiều người vẫn còn sống. Dê non không thể điều khiển được sói. Loạn là lẽ thường thấy. (Điều này ứng với triều vua Quang Toản nhà Tây sơn). Phải chăng thấy được lẽ này mà các vị vua xưa thường loại bỏ các công thần của mình khi đã thành công chăng?

Thứ năm: Sở dĩ cũng biết mình vô đức vô tài. Lại lo “lộc giời” vào tay kẻ khác. Các vị vua này thường phải kết bè kết đảng để loại trừ những kẻ không ăn cánh. Biến đất nước thành cảnh nồi da nấu thịt. Phàm đã hăng hái trong việc đánh nhau riêng thì lại rất hèn nhát trong việc đánh nhau chung của nước nhà. Lúc này ngoại bang chỉ hăm một tiếng cũng đủ làm cho các ngài vãi đái ra quần. Đành làm một vị vua mất nước, mong kẻ địch thí cho một chút quyền lợi nào đó cũng đủ sướng thân. Thôi đành không vương bá cũng còn là công hầu như kiểu anh chàng “lạc bất tư thục” Lưu Thiện kia thôi. Chỉ có dân đen mới là mất tất cả.

Lật thuyền mới biết dân là nước. Làm nên triều đại là dân, lật đổ triều đại cũng là dân. Khi đất nước có năm điều trên mà nhân dân lại cam chịu, không vùng lên lật đổ thì mới là lạ.

Các vị quân vương đời nay!

Các vị có bao giờ tự hỏi mình đã phạm vào mấy điều trong năm điều kể trên?

Các vị có bao giờ tự hỏi liệu con cháu mình có sướng quá sinh hư hay không?

Hay các vị chỉ cố vơ vét chút nào hay chút ấy hòng có chút cho con cháu đời sau?

Truyện xưa kể rằng: Thời Xuân thu chiến quốc, có một nước nào đó. (Tôi có điểm yếu là khi đọc sách, chỉ nhớ nội dung chứ ít khi nhớ được tên người, tên đất). Thôi ta cứ tạm gọi là nước Trịnh đi. Bởi nhẽ các cụ chết cả rồi, chả biết đường nào mà kiện ta đâu. Vậy thì ở nước Trịnh xưa có một vị vua rất ham làm giàu cho bản thân như hầu hết các quân vương đời nay. Một hôm Thế tử hỏi nhà vua:

- Con của con thì gọi bằng gì?

- Gọi là cháu.

- Thế cháu của cháu thì gọi bằng gì?

- Bằng chắt.

- Thế Chắt của chắt thì gọi bằng gì?

- Biết gọi bằng gì được.

- Nay bệ hạ làm vua một nước. Không lo cho con dân của mình, những người hàng ngày bệ hạ vẫn gặp, có nghĩa vụ với trời phải chăm nuôi. Bệ hạ lại đi lo cho những đưa mình không biết gọi là gì. Con thiết nghĩ không phải vậy.

Thưa các vị quân vương! Xin nhắc lại câu nói của vị thái tử nước Trịnh: Nay các ngài không lo cho dân cho nước. Những người có thể nuôi sống các ngài cũng có thể dìm chết các ngài. Lại đi lo cho đứa mà các ngài không biết gọi bằng gì thì lạ thật.

 

Lại nữa. Địch quốc chỉ sợ những nước có minh quân chứ không hề sợ những nước có vị hôn quân.

Và cả chúng ta nữa. Thiết nghĩ, mỗi dịp năm mới, mỗi ngày mới, ta nên đứng trước gương mà tự vấn mình rằng: Năm qua, hôm qua, ta ăn cướp như thế đã đủ chưa? Đã đủ để thiên hạ đào ông bà ông vải ta lên mà chửi chưa?

Vì rằng: Biết đủ cũng là điều cần thiết để làm người….

Tác giả bài viết: Cụ Chánh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

+ Xem phản hồi    - Gửi phản hồi   Print Friendly and PDF

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Powered by Nukeviet